![]()
![]()
Trần
Ngọc Toàn
. Chỉ Huy Trưởng:
.
Nhập học ngày 29 tháng 11 năm 1959 tại cơ sở Trường Võ Bị Liên
Quân, nguyên là Quân Viện Catroux của quân đội Pháp chuyển giao.
Quân số Tân Khóa Sinh (TKS) nhập học hơn 300 người.
-
Sau 8 tuần Huấn Luyện Sơ Khởi, Thủ-khoa Tân Khóa Sinh là Tân Khóa
Sinh Lý Văn Quảng (đã tử trận năm 1964
trong lúc phục vụ tại Tiểu-đoàn 6 Nhảy Dù).
-
Sau năm thứ nhất, 52 Sinh Viên Sĩ Quan, do kết quả
thi văn-hóa cuối năm dưới điểm trung-bình, những người này
được đưa đi tiếp tục huấn luyện quân sự ở Trường Hạ Sĩ
Quan Đồng Đế ở Nha Trang, ngoại trừ 4 Sinh Viên Sĩ Quan được
gia đình bồi hoàn chi phí huấn luyện cho Bộ Quốc Phòng để được
giải ngũ, trở về đời sống dân sự, do qui chế hiện dịch và
chưa có lệnh Tổng-động-viên.
-
Cuối năm thứ 2, hai Sinh-viên Sĩ-quan nữa bị loại vì thiếu điểm
trung-bình văn hóa, được Chi-huy-trưởng Trường Võ Bị cho chọn
quân binh chủng để phục vụ và hai người này đã thuyên
chuyển sang Hai-quân với cấp bậc Chuẩn-úy hiện dịch.
-
Kỳ thi văn hóa cuối năm thứ 3, đã loại trừ thêm 1 Sinh-viên Sĩ-quan
và người này đã tình nguyện phục vụ tại binh chủng Nhảy Dù
với cấp bậc Chuẩn-úy hiện dịch.
-
Vài tháng sau, Tổng-thống Ngô Đình Diệm đã ban lệnh đặt quốc
gia trong tình trạng khẩn trương và đồng loạt cho khóa 16 tốt
nghiệp (cùng lúc với khóa 12 Thủ Đức và khóa 3 Đồng Đế), tên
khóa được đặt là "Khóa Ấp Chiến Lược" để đáp
ứng nhu cầu chiến trường.
Năm
1960, khi Trường Võ Bị Liên Quân được chính thức cải tổ thành
Trường Võ Bị Quốc Gia Việt Nam, khóa 16 bước vào năm thứ
nhất ở cơ sở trường cũ. Sau năm thứ hai, cơ sở trường mới
đã tạm hoàn thành trên ngọn đồi 1515 san bằng, khóa 16 đã
tiếp nhận khóa 18 nhập trường cho đến ngày mãn khóa khi khóa 19
hoàn tất 8 Tuần Sơ Khởi. Khóa 16 là khóa đầu tiên phục vụ liên
Quân Binh Chủng. Riêng với Hải-quân, trong số 15 sĩ quan đến Trường
Hải-quân Nha Trang chỉ còn 7 sĩ quan "bám trụ" và 7 sĩ
quan đã bỏ về lại lục-quân do thái độ kỳ thị và ganh tị
của các sĩ quan thuộc quân chủng quân chủng này đối với họ.
Khóa
16 tốt nghiệp với 226 Thiếu-úy hiện dịch và được bổ nhiệm
đến: Không-quân 27 người, Hải-quân 15 người, Nhảy Dù 3 người,
Thủy Quân Lục Chiến 10 người và các Sư-đoàn bộ binh cùng Lực
Lượng Đặc Biệt, Biệt Động Quân. Dù vậy, cũng có đến gần
50 sĩ quan được giữ lại trường và bổ nhiệm đến các trung tâm
huấn luyện và quân trường khác để làm cán bộ hoặc huấn
luyện viên.
Thủ-khoa
khóa 16 là Thiếu-úy Bùi Quyền, phục vụ ở binh chủng Nhảy Dù.
"Lúc
Bấy Giờ..."
Đại
Đội 7 Tân Khóa Sinh
Dưới
chế độ Việt Nam Cộng Hòa đầu tiên, vào tháng 11 năm 59, Hướng-đạo
Việt Nam đã hãnh diện đứng ra tổ chức Trại Họp Bạn Thế
Giới (Jamboree) tại Trảng Bom, Long Khánh. Đang là Đội-trưởng
Nhất của Thiếu-đoàn Quang Trung tại Đà Lạt, tôi thật nao nức
chuẩn bị đi dự trại. Đột nhiên, giấy gọi trình diện nhập
học khóa 16 đến nhà. Chẳng buồn hỏi ai, tôi nhất quyết đi
họp bạn hướng-đạo rồi mới vào trình diện trường Võ Bị.
Khi trở về lại Đà Lạt, từ lâu đã nghe nói lúc mới vào trường
khóa đàn anh "quay" dữ lắm nên tôi không mang gì theo ngoài
chiếc quần jean cũ bạc màu (xin của nhà thờ Tin Lành) với áo da
đen và đôi giày "mocassins" cho nhẹ chân chạy. Nào ngờ
cả khóa 16 đã nhập học đầy đủ cả tuần lễ rồi. Người ra
đón tôi ở trạm gác cổng Chi Lăng là SVSQ khóa 14 Nguyễm Kim
Thinh, cán bộ Tiểu-đoàn-trưởng Tiểu-đoàn 1 Tân Khóa Sinh. Anh
nhìn tôi từ đầu đến chân rồi chẳng nói chẳng rằng ra dấu
cho tôi đi theo vào doanh trại. Sau khi đầu tóc bồng bềnh đã được
gọt sạch, tôi nhập học khóa với bộ quần áo "du đãng"
ấy suốt cả hai tuần lễ đầu. Luôn luôn chạy cuối hàng quân và
được "tận tình chiếu cố". Tôi được xếp vào đại
đội 7 TKS coi là đại đội thặng số và nằm cùng phòng với
"ông Tổng Võ Bị hai nhiệm kỳ" T.K.T. và sát giường
của một người hoàng-tộc họ Tôn Thất rất "Tây" nên
được đặt tên là "Đờ Lăng". Bù lại, tôi cũng được
cả khóa gọi là "cao bồi" để phân biệt với "ông Tây
già" họ Hồ. Sau này, khi về TQLC tôi đã gặp lại NT Nguyễn
Kim Thinh nhân dịp bàn giao vị trí đóng quân năm 64. NT Thinh đã
cùng Á-khoa K14 Thái Trần Trọng Nghĩa về binh chủng này năm 60.
Những
Vi Giáo Sư Toán Của Khóa
Do
nhu cầu của chương trình văn hóa được cải tổ, theo khuôn mẫu
Trường Võ Bị West Point của Hoa Kỳ, một số sĩ quan có bằng
cấp đại học đã được điều động về trường Võ Bị. Với
dáng cao gầy và gương mặt khắc khổ, Hải-quân Trung-úy Lê
Phụng vốn tốt nghiệp từ trường sĩ quan Hải-quân Pháp đã
xuất hiện ở sân trường với bộ quân phục đại lễ màu
trắng thẳng nếp và bộ kiếm lủng lẳng bên hông. Ông độc thân
nhưng khó tính, không bao giờ cười và đã gọi những người
học kém toán, như tôi, là "đầu óc gỗ". Ở lớp học ông
thường nghiêm nghị và có lúc trầm ngâm với ống "pipe"
trên tay. Ông Lê Phụng đã đi tu nghiệp bên Hoa Kỳ năm 72 và không
trở lại Việt Nam nữa. Đối nghịch, đại-úy Nguyễn Ngộ, cũng
độc thân, vốn tốt nghiệp trường đại học Sorbone ở Paris, khi
được đề cử sang Pháp học Công-binh, về cả khoa toán lẫn văn
chương. Ông vào lớp như một triết gia với quân phục chểnh
mảng và giảng toán thao thao bất tuyệt. Nhưng ông giảng bài dễ
hiểu hơn. Đối với ai lên bảng giải toán tích-phân cứ loay hoay
với nhiều hàng số, ông chỉ nói nhẹ rằng "anh như con nhện
tự giăng tơ ra quấn lấy mình". Bước sang năm thứ hai,
Hải-quân đại-úy Nguyễn Tiến Ích cùng đến Văn-hóa-vụ với
một số giáo sư tốt nghiệp ở Mỹ về làm việc cho Nguyên Tử
Lực Cuộc như giáo sư Nguyễn Tư Bân. Hải-quân đại-úy Nguyễn
Tiến Ích về trường đã tiếp tay về môn toán với món ăn khó
nuốt được gọi là "sinsin colog". Sau này, ông đi tu
nghiệp và lấy bằng tiến-sĩ ở học viện MIT, Hoa Kỳ. Trong
cuộc khảo hạch văn hóa nào, ông Lê Phụng cũng sẵn sàng phang
hai con số 00 cho những bài đáp toán "không ra gì". Từ đó,
với quyết tâm của tân Chỉ-huy-trưởng là Trung-tá Trần Ngọc
Huyến, cái tên Khóa 16 Lưu Đầy ra đời.
Khóa
16 Lưu Đầy
Một
ngày không đẹp trời, khi mùa quân sự sắp khai giảng, cuối năm
60, ở doanh trại cũ, cả khóa 16 được lệnh tập họp giữa sân
cờ chờ lệnh. Sau đó, đích thân Chỉ-huy-trưởng cầm tay danh sách
"phong thần" đến cùng với đầy đủ các sĩ quan cán
bộ. Những SVSQ được gọi tên sẽ tập họp riêng ra một bên,
rồi trong vòng nửa tiếng đồng hồ, được lệnh theo sĩ quan cán
bộ vào phòng ngủ thu dọn quân tư trang ra trước sân cờ để
được phân bổ lên xe GMC cơ hữu cùng toán quân hộ tống chạy
thẳng xuống Trường Đồng Đế ở Nha Trang. Danh sách cùng quyết
định đã được chính Chỉ-huy-trưởng giữ bí mật cho đến
giờ phút cuối. Trong số này, có người đã tốt nghiệp Tú-tài
phần 2 kỹ thuật và là cháu ruột của đương kim Tổng-trưởng
Quốc-phòng cùng em ruột của một vị Trung-tướng.
Biến
cố này đã lưu lại một vết thương tinh thần cho cả khóa. Đồng
thời, từ đấy ai cũng bừng tỉnh ngộ khi thấy nhà trường đã
đặt nặng chương trình văn hóa. Đa số vào trường đã mang ý
nghĩ "đã bỏ học ở ngoài để đi lính rồi." Từ đấy,
những SVSQ vốn đã có chứng chỉ MG, MPC đã vượt nổi lên như Bùi
Quyền, Nguyễn Xuân Phúc. Nguyên gốc Tú-tài ban C, tôi cùng nhiều
bạn bè lo lắng, tối tối theo năn nỉ "cháu 7 đời của ông
Bùi Viện" dạy kèm thêm toán, e rằng có ngày phải "đi tàu
xuốt".
Cổng
Tôn Thất Lễ
Cổng
sau của Trường Mới về phía Chi Lăng được tạm gọi tên của
nhà thầu xây cất. Do "thất lễ", nên từ cổng này đã
xảy ra nhiều chuyện ngoài "kỷ luật thép" của nhà trường.
Sang năm thứ 3, là khóa lớn nhất, một số tuổi trẻ ham vui đã
lợi dụng đêm tối lẻn ra cổng này để đi thăm mấy "em gái
Đà Lạt". Nếu có những màn điểm danh bất chợt nửa khuya,
ai cũng chắc là đã có chàng bị bắt gặp ngoài phố. Cũng may không
có "sự cố" nào đáng tiếc xảy ra.
Rồi
cả khóa được đưa xuống Dục Mỹ, Nha Trang, theo học khóa Rừng
Núi Rừng Lầy của Biệt Động Quân cho đến lúc "tả tơi"
trở về trường Võ Bị với râu tóc xồm xoàm, áo quần bạc
phếch và da dẻ đen thui. Hình ảnh này đã khiến cho các TKS khóa
19 mới vào trường bị đàn anh khóa 17 quần thảo "bở hơi
tai" lấm lét không dám nhìn dù có người vốn là bạn học
từ thuở còn tiểu-học.
Ra
Trường Đi Đơn Vị
Khi
ba người bạn cùng khóa được bổ nhiệm về tiểu-đoàn 4 TQLC đang
hành quân ở Cà Mâu, đã hết sức ngỡ ngàng trước đám lính
TQLC râu tóc xồm xoàm, súng đạn tua tủa, dày dạn chiến trường
mà chẳng có ai quan tâm dẫn dắt. Trong đon vị có các khóa Võ
Bị Liên Quân từ K8 đến K10, 13, 14. Một vị Đại-úy đại-đội-trưởng
xuất thân khóa 13 đã "chỉnh" ngay khi nghe gọi bằng Niên
Trưởng thay cho cấp bậc. Nên từ đấy, khi có dịp họp mặt
nhau, chúng tôi đã bảo nhau phải hết lòng lo lắng và dẫn dắt các
khóa đàn em và luôn tôn trọng danh từ Niên Trưởng của Võ Bị.
Là khóa đã phục vụ liên Quân Binh Chủng nên từ năm 65 đến 75,
đi hành quân hay công tác ở đâu chúng tôi cũng gặp lại nhau. Trên
trời, có Trương Thành Tâm, Nguyễn Văn c, Trần Châu Rết, Cao
Quảng Khôi, Lê Văn Châu... Ngoài biển, có Nguyễn Duy Lòng, Hoàng
Đình Thanh, Nguyễn Như Phú, Nguyễn Hồng Diệm... Đã nghe tiếng
nhau, bằng mọi giá cũng nhào vào tiếp cứu. Từ đó, các khóa đàn
em đã theo bước chân và tạo thành một truyền thống về Tình Thân
Ái của tập thể cựu SVSQ Võ Bị cho mãi đến nay. Trong công
cuộc chiến đấu chống Cộng, một nửa khóa 16 đã nằm xuống trên
khắp các mặt trận đã tạo nên tiếng tăm lừng lẫy cho Trường
Võ Bị Đà Lạt, trong suốt chiều dài của một thập niên chinh
chiến đầy máu lửa để gìn giữ phần đất tự do của quên hương.
Những
tên tuổi đã đi vào chiến sử của Miền Nam Việt Nam của khóa
16 bắt đầu từ Nhữ Văn Hải đến Võ Anh Tài, Hoàng Lê Cường,
Hồng Bảo Hiền, Nguyễn Hữu Thông, Đặng Phương Thành, Phan Văn Tân,
Bảo Sung, Nguyễn Bảo Tùng, Lâm Quang Đằng, Trịnh An Thạch,
Nguyễn Đình Thủy, Đỗ Hữu Tùng, Nguyễn Đằng Tống và Nguyễn
Xuân Phúc.
*
Ghi Chú:
-
Đại-tá Nguyễn Hữu Thông, Trung-đoàn-trưởng của Sư-đoàn 22
Bộ-binh tự tử ở miền trung sau khi từ chối lên tàu hải-quân
di tản năm 75.
-
Đại-tá Đặng Phương Thành, Trung-đoàn-trưởng của Sư-đoàn 7
Bộ-binh vượt ngục ở một trại tù tại miền bắc đã bị bắt
lại và bị đánh đập đến tử thương năm 78.
-
Trung-úy Nguyễn Bảo Tùng là phi công trực thăng của Không Lực
VNCH tử trận năm 65 ở biên giới Việt-Lào trong chuyến đổ quân
bí mật của Lực Lượng Đặc Biệt Hoa Kỳ, được an táng tại
nghĩa trang Quốc-gia Arlington, Virginia, Hoa Kỳ tháng 6 năm 2003, sau ngày
hài cốt được Cộng-sản VN hoàn trả.
Trần
Ngọc Toàn, K16 ghi lại