
Trần
Ngọc Toàn
Ðà
Lạt Ngày Xưa:
"Khi
mới lớn lên, tôi nghe ông Chú của tôi kể lại ông và tất cả
học sinh của thành phố Ðà Lạt được chính quyền vận động
đi trồng những cây thông quanh bờ Hồ Lớn, sau này được đặt
tên là Hồ Xuân Hương".
Lúc
bấy giờ người Pháp đã xây đập chặn nước của dòng suối
lớn Ðà Lạt chảy từ hướng Bắc về, qua các ghềnh thác lớn
nhỏ rồi đổ xuống tận sông Ðà Rằng ở vùng Bảo Lộc, Ðịnh
quán. Trong khi đó, ho cũng ngăn đập ở thượng nguồn làm hồ nước
Suối Vàng với đập Thủy Ðiện Ðan Kia bên dãy núi Bà ở phía
Bắc thành phố. Trên đường mở vòng quanh thành phố, họ đã
chặn nước tạo nên hồ Than Thở và hồ Saint Benoit, sau này được
đổi tên là Chi Lăng. Xa hơn, về hướng chính Bắc là hồ nước
nhân tạo ở ấp Ða Thiện với dòng nước chảy về Thác Cam Ly.
Riêng với Hồ lớn, họ đã phải dùng cốt mìn để khoét sâu thêm
trước khi làm đập ngăn dòng nước trên đoạn đường từ hướng
Nhà Thờ Con Gà qua dốc lên phố chính thương mại được mang tên
là Khu Hòa Bình. Chiếc cầu trên đập nước được gọi là cầu
Ông Ðạo. Sau này, nhạc sĩ Trịnh Công Sơn đã tức cảnh qua cầu
nên thơ với tà áo trắng học sinh tung bay viết nên bản nhạc
"Có một Dòng Sông". Khi ghé thăm Ðà Lạt, nhạc sĩ Lam Phương
cũng viết bản nhạc "Thành Phố Buồn" góp mặt với một
số bài ca của các nhạc sĩ khác như "Chiều Vàng", "
Xứ Hoa Ðào" , "Ðà Lạt sương mờ" v.v...
Dòng
suối từ cầu Ông Ðạo chảy xuôi theo thung lũng bên ấp Ánh Sáng
mới được dựng lên sau năm 1955, mở rộng như một dòng sông
nhỏ qua cầu Bá Hộ Chúc bằng gỗ, đến ấp nhỏ với vườn rau
cải xanh mướt quanh năm rồi qua cầu
Nhà Ðèn, khu
"Abattoire" chuyên mổ lợn giết bò, qua xóm Lò Gạch rồi đổ về Thác
Cam Ly với một ấp người Thượng gốc sắc tộc Kơ Ho với nhà sàn
tập thể ở đầu nguồn. Với trợ cấp của một chủ nông trại
người Pháp tên Farraut, còn chìm trong cảnh núi rừng hoang dã và
nguồn nước chảy rất mạnh qua ghềnh đá nhấp nhô.
Ngược
lên hướng Tây Bắc từ Thác nước là Phi trường Cam Ly, với đồi
núi trùng điệp vây quanh, nhưng phi trường rất ít được sử
dụng vì thời tiết mây mù và núi cao vây quanh.
Lúc
còn học ở trường Tiểu Học Ðà Lạt, là trường Tiểu học duy
nhất lúc ấy dạy tiếng Việt, vào năm 1951, tôi được đề cử
cùng những học sinh khác vào Dinh Vua Bảo Ðại ở Biệt Ðiện
số 1 để nhận quà Tết do chính tay ông Bảo Ðại trao cho. Dinh cơ
nguy nga và tráng lệ như cảnh phim Vua Chúa của Tây Phương thời
đó. Tôi cũng có được món đồ chơi duy nhất từ bé đến lớn
là con gà con bằng nhựavới máy móc làm nó nhẩy từng bước trên
hai chân.
Ở
ngã ba rẽ vào Biệt Ðiện số 1 là cơ sở hành chánh của chính
quyền, sau này có khi được lấy làm Tiểu Khu cho đến lúc dời lên
cơ sở của Ðại Biểu Cao Nguyên Trung Phần do các ông Tôn Thất
Hối và Nguyễn Văn Ðãi đảm trách đến ngày cuối cùng.
Ngay
sau lưng đường Yersin là thung lũng sâu hẹp của ấp Xuân An, Dốc
Nhà Bò, Suối Cát dẫn về Suối Tía xuống tận Núi Voi dưới chân
đào Prenn. Một bên là trường Dòng Domaine de Marie tức là địa
phận Ðức Bà, một bên là sân vận động nhỏ rồi đến ngôi Nhà
thờ Con Gà với tháp chuông cao có hình con gà trên cùng.
Kế
đến là khách sạn Du Parc với Tháp cao làm Ðài Phát Thanh, Ngân
Khố, Bưu Ðiện và khách sạn Palace nằm trên đồi nhìn xuống
hồ nước Xuân Hương với đường bậc cấp thoai thoải, rộng
lớn đưa xuống đường vòng quanh Hồ với Nhà Thủy Tạ sơn
trắng đứng trên doi đất chồm ra mặt nước. Một bên đường là
Câu Lạc Bộ Thể Thao với sân quần vợt.Ở lưng đồi, có một
khu biệt thự trước năm 1959 dành làm trường Quốc Gia Hành Chánh
với khóa học đầu tiên.
Tòa
Ðại biểu Chính Phủ Cao Nguyên Trung Phần là một dinh thự bề
thế nằm ngay trên đỉnh đồi nhìn về phía Hồ nước với đường
trải nhựa vòng cung và hàng rào sơn trắng uy nghi. Về hướng Ðông
là ngã tư đầu dốc Prenn đổ dốc vào thành phố. Bên kia là
ngọn núi dành cho Biệt Ðiện số 2 của Vua Bảo Ðại. Khoảng năm
1959, mới có cây xăng Kim Cúc được xây dựng ngay góc ngã tư này.
Từ đây, đổ xuống dốc là hai dãy biệt thự đối mặt kéo dài
xuống tận cuối dốc với khách sạn và nhà hàng PHÁP tên ỏõ Au
sans soucis ỏõ. Khi ngược lên là mấy ngôi biệt thự nằm lẻ
trong rừng thuộc tài sản của một người Pháp ở Ðà Lạt lâu
đời tên là Farraut. Ngay tại đây, từ trước năm 1975, chính
quyền đã phá núi làm bến xe cho các loại xe đò, xe chở hàng để
giảm bớt lưu lượng trong thành phố. Quen thuộc nhất là Nghiệp
đoàn xe đò Minh Trung với loại xe hiệu Peugeot của Pháp được
biến cải để chở cả 9, 10 người khách.
Vào
năm 52, gia đình tôi tạm trú ở căn biệt thự số 17 đầu dốc
Preen, bên kia đường là nhà của Chỉ huy trưởng Trường Võ Bị
Liên Quân lúc ấy là Trung Tá Nguyễn Văn Thiệu và tư dinh của
Chỉ huy trưởng Ngự Lâm Quân là Thiếu Tá Trần Bá.
Ðường
đèo dốc Preen dài ngoằn ngoèo cả 10 cây số. Ðường hẹp với
một bên là bờ núi đá và một bên là dốc sâu thăm thảm. Lúc còn
đi Hướng Ðạo ở Ðà Lạt, bọn trẻ nhỏ chúng tôi từng nhiều
lần đổ dốc bằng xe đạp khi đi cắm trại. Ở khoảng cây số
thứ 4 là thác nước Ða Tăng La, lúc xưa gọi theo tiếng Kơ Ho là
Dantania, với dốc đá cheo leo khuất trong rừng sâu dày đặc. Vừa
hết đèo dốc là thác nước Preen ngay bên trái với màn nước
chảy chồm qua mỏm đá trong cảnh rừng núi đầy thơ mộng.
Thoạt
tiên, khi người Pháp mở đường lên Ðà Lạt, trên Quốc Lộ 20
sau này, từ Bảo Lộc, Di Linh đi lên họ đã mở một đường đèo
ngắn hơn nhưng nguy hiểm hơn song song với đèo hiện hữu xuyên lên
khu trại Hầm. Ngay ngọn đèo đã bỏ hoang ấy, với đường rải
đá loang lỗ, có một ngôi Chùa Sư Nữ với những cây mít lâu năm
cằn cỗi và vườn mận trái ngọt.
Từ
ngã bao đầu dốc Preen mới, qua Biệt Ðiện sẽ đến khúc Ðại
lộ Trần Hưng Ðạo rộng gấp ba bốn lần những con đường trên
Ðà Lạt, với những ngôi biệt thự hai bên đường sang trọng
dẫn đến khu Villa Alliance của các nhà Truyền Ðạo Tin Lành ở
ngay đầu dốc Preen cũ, liền với ấp trại Hầm nổi tiếng với
những khu vườn Mận ngọt lịm chớm vàng ươm hoặc màu tím sẫm
đen. Từ đây dẫn xuống Biệt Ðiện số 3 nằm khuất trong rừng
núi sâu là nơi Vua Bảo Ðại làm chỗ đi săn bắn.
Song
song với đường đi Trại Mát, nối dài đường vòng hồ Xuân Hương
là con đường nằm ngang dưới chân biệt thự và
phòng mạch của
Bác sĩ Sohier, đã sống gần trọn đời tại nơi này, đưa vào Nha
Ðịa Dư Quốc Gia và Trường Trung Học "Grand Lycée Yersin".
Trường sở bề thế chiếm hẳn một chỏm núi rộng cả ngàn mét
vuông với các dãy nhà hai tầng làm phòng ốc cho lớp học, nhà
nội trú, phòng thể dục với sân rộng lớn hơn một sân bóng đá
và một tháp chuông vươn lên khỏi chòm rừng thông, ở hướng
Ðông, nhìn xuống hồ nước.
Từ
ngã ba vào Nha Ðịa Dư, đường vòng qua Ga Xe Lửa tọc lạc trên
một mảnh đất khá rộng san bằng một chỏm núi với ấp Hồng
Lạc nằm dọc theo khe nước. Ấp này mới thành hình từ năm 1951
với khu trại gia binh dành cho Ngự Lâm Quân đồn trú bảo vệ Hoàng
Triều Cường Thổ. Ðường xe lửa chạy song song với đường bộ
đi về Trại Mát đến Ðơn Dương. Ở những chặng đường đèo,
xe lửa được giữ lại nbằng móc sắt ỏ giữa đường với thêm
một đầu máy đẩy lúc lên dốc và hãm lại lúc xuống dốc. Sau
này đường xe lửa ngưng chạy vì an ninh đã trở thành trụ sở
của Hàng Không Air Việt Nam để lập thủ tục đưa hành klhách
bằng xe ca về tận Phi trường Liên Khương ( cách 20 cây số về
Nam ).
Bệnh
viện với nhiều căn nhà trệt và một nhà lầu hai tầng bao quanh
một sân rộng như sân bóng tròn, nằm trên một chỏm núi san
bằng sâu vào bên trong, nối liền với cơ sở của trường Võ
bị Liên Quân cũ. Bên ngoài là cơ ngơi của các Y sĩ, Sĩ quan
phục vụ với gia đình. Vào năm 1960, trường Võ Bị Liên Quân
được cải tổ thành trường Võ Bị Quốc Gia dưới thời Ðệ
Nhất Cộng Hòa, với cơ sở bề thế, khang trang mới được xây
dựng trên ngọn đồi 1515 san bằng bên cạnh trang trại của
Farraut và gần hồ Than Thở. Với Chính phủ Quốc Gia và chương trình
Ðại Học 4 năm lồng trong việc huấn luyện quân sự lấy theo khuôn
mẫu của trường Võ Bị West Point bên Mỹ, đã thu hút nhiều thế
hệ thanh niên ở miền Nam từ năm 60 đến 75.
Với
4 khóa học cùng một lúc trong trường, vào ngày nghỉ được ra
phố cuối tuần, các sing viên Sĩ Quan đã tô điểm thêm cho vẻ
sang trọng của Thành phố với các bộ quân phục mùa Hè và mùa
Ðông thẳng nếp chỉnh tề, đẹp mắt. Bên trái của Trường Võ
Bị nằm trên một ngọn Ðồi Cù, bên hồ là trung Tâm Nguyên Tử
Lực Cuộc được xây dựng vào năm 1960, đã cung cấp một số giáo
sư du học từ Mỹ về cho trường Võ Bị và Trường Ðại Học Chính
trị Kinh Doanh, Văn Khoa và Sư Phạm ở Ðà Lạt.
Cơ
sở của Khu Ðại Học Ðà Lạt ở ấp Ða Thiện vốn là trường
ốc nội trú của Thiếu Sinh Quân Pháp sau năm 1955 được chuyển
về Vũng Tàu. Cũng như cơ sở của Trường Trung Học Trần Hưng Ðạo
bên hồ nước nhân tạo bên ấp Ða Thiện cũng từ cơ ngơi của
Thiếu Sinh Quân giao lại từ năm 1952 với tên trường Bảo Long là
Hoàng Tử của Vua Bảo Ðại. Nằm trên sân Cù là nền đất đỏ
san bằng ngọn núi thấp là trường Nữ trung Học Bùi Thị Xuân
nguyên thủy là trường Trung Học Phương Mai tên của Công chúa con
Vua Bảo Ðại, rồi được đổi thành Quang Trung khi Thủ Tướng Ngô
Ðình Diệm lên chấp chánh. Sau cùng, tất cả nam sinh được dồn
về Trung học Trần Hưng Ðạo và cơ sở này dành cho Nữ sinh với
tên trường là Bùi Thị Xuân với đồng phục áo dài màu xanh,
quần trắng. Ðối diện với trường Bùi Thị Xuân là trường Ðại
Học Chiến Tranh Chính Trị được lập năm 1961 đã cung ứng Sĩ
quan CTCT cho các đơn vị quân đội.
Dưới
thung lũng hẹp của ấp Ða Thiện gồm đa số người Việt di cư
từ Nghệ An, Hà Tĩnh vào, chuyên trồng trái dâu tây. Kế đến là
ngọn núi nghĩa trang thường được gọi là Mả Thánh được lập
từ ngày có thành phố Ðà Lạt với mộ bia chồng chất từ dưới
chân núi lên đến đỉnh phía Ðông là khu mộ Tử Sĩ của những
thanh niên yêu nước chống Pháp đã hi sinh. Dưới chân núi phía Tây,
theo đường lên núi Bà là làng Ða Nghĩa với ấp số 4, ấp số 6
gọi theo mốc cây số đường, lên đến Ðăng Kia, Suối Vàng với
ngôi chùa Linh Sơn (1) lâu đời. Ở Ðan Kia, có một cao ốc Tu
viện Thiên Chúa đồ sộ nổi lên giữa rừng núi của Dòng Ða
Minh.
Cao
sừng sững về phía Bắc là dãy núi Bà với hai chỏm núi gần như
chìm trong sương mù quanh năm. Hàng năm, các khóa Võ Bị đã lần lượt
vượt đồi núi chinh phục đỉnh Lâm Viên như một truyền thống
trước khi chính thức trở thành Sinh viên Sĩ quan.
Từ
ấp số 4 về khu phố Hòa Bình có hai đường gần như song song. Ðường
trên các ngọnnúi nối liền chạy ngang trước mặt khu tu viện
"Domaine de Marie" với ngôi nhà thờ Ðức Bà uy nghi trên đỉnh núi
với bậc cấp rộng lớn, xoai xoải đưa lên cửa chính với các cơ
sở nhà tu khang trang vây quanh dành cho các Nữ tu Dòng Thánh Mẫu
Marie với cơ sở trường tiểu học đạo Thiên Chúa. Nằm khiêm
nhừng bên dưới, bên đường Hai Bà trưng là trường Tiểu học
Ða Nghĩa, bắt đầu bằng một ngôi nhà dành cho ba lớp sơ cấp
từ năm 1945 đến 1959 mới phát triển thành trường Tiểu Học,
Tiếp đến, trên đường Hai Bà Trưng bên dòng suối nhỏ chảy
về Cam Ly là Cư xá công chức của Thị xã như Bưu Ðiện, Công chánh.v.v.
. . Với các vườn rau cải dọc theo dòng nước tiếp liền qua đường
Phan Ðình Phùng khởi đầu một khu phố buốn bán sầm uất. Gần
nhà thờ Ðức Bà tọa lạc khu Nhà Thương dành cho quần chúng
với sự chăm sóc nhân từ của các Sơ từ Tu Viện Domaine de Marie
đến làm việc từ thiện bác ái.
Nhà
Thương Ðà Lạt dành cho quần chúng nghèo và người Thượng từ các
Buôn về. Dãy nhà lầu hai tầng rộng rãi cách khu nhà Thương
chừng vài trăm mét về phía Nam là Bệnh viện Ðà Lạt với các Bác
Sĩ, Y Tá người Pháp dành cho giới giàu sang. Về phía Tây, gần đấy
là cơ sở nhà Ðoan đổ dốc nhỏ qua các biệt thự với vườn cây
Mận dày đặc đưa lên ngọn núi với các cơ sở của Cảnh Sát và
Công An đổ về miệt thác Cam Ly. Dưới chân núi Nhà Ðoan là xóm
Lò Gạch, sau này đổi tên là đường Hoàng Diệu tiếp giáp đến
khu nhà sàn định cư của một số người Kơ Ho làm việc cho Trang
trị nhà Farraut. Các Bà Sơ dòng Tu cũng coÀ một thời mở một
tiệm ăn ở đầu dốc gần nhà Ðoan để kinh tài với phong cách
rất đặc biệt thu hút nhiều khách hàng từ xa đến.
Từ
đường Phan Ðình Phùng, ở khoảng giữa, có ngả rẽ lên dốc
với chùa Linh Sơn (2) trên lưng núi với cơ ngơi khá bề thế và
trang trí đẹp mắt, hòa nhã nối tiếp qua con đường Võ Tánh đưa
xuống hồ Ðội Có, là hồ nhỏ chứa nước dùng cho cả thành
phố với nhà máy lọc nước. Từ đây đi ngược lên núi là đường
độc đạo đưa lên Dinh Thị Trưởng, đường Hàm nghi dẫn vào
phố chợ, trước được người Pháp bắt chước Tàu đặt tên là
đường An Nam với ngôi nhà thờ Tin Lành hỏ gọn ở lưng chừng núi
và rạp chiếu bóng nhỏ xíu nằm chênh vênh bên dốc đứng nhìn
xuống đường Phan Ðình Phùng. Từ đây đi vào vào Bến xe cũ ngay
dưới chân Dinh Thị Trưởng và Khu phố Chợ với Nhà Lồng Chợ
ở giữa và tiêm buôn bán, nhà hàng bao quanh gồm một số đáng
kể của người Tàu đã định cư lâu đời theo dân Pháp thuộc địa,
nổi tiếng với những nhà hàng ăn sang trọng như Au Chic Sanghai,
tiệm bánh mì Vĩnh Châu, tiệm thuốc Bắc, Tạp hóa xen lẫn một
ít cơ sở buôn bán của người Việt vốn dòng dõi Hoàng tộc nhà
Nguyễn. Các Ông thì đều là Tôn Thất và các Bà, các Cô đều là
Tôn Nữ. Bà chủ tiệm vàng lâu đời Bùi Duy Chước vốn là Công
Tằng Tôn Nữ. Ðấy là thời kỳ Hoàng Triều Cương Thổ. Ðến năm
54, những tiệm phở Bắc nổi lên với Phở Bằng ở đường Hàm
Nghi, Phở Tín bên hông chợ và Càphê Tùng với cà phê Ban Mê
Thuột và nhạc trào lưu mới quyện trong khói thuốc lá mịt mù. Vài
năm sau có gia đình lưu lạc từ Nam Vang lên đây mở tiệm hủ
tiếu Nam Vang lừng danh. Gần rạp chiếu bóng Ngọc Hiệp, đầu
hẻm từ Phan đình Phùng đi qua đường Hai Bà Trưng là quán Mì
Quảng với hương vị đặc biệt nổi danh lại do một ông người
Bắc vào Nam từ những năm 1940 đứng nấu. Ngay góc đường đầu
dốc Duy Tân có tiệm làm bánh mì Vĩnh Chân nóng giòn từ sáng
sớm cho đến khuya.
Sau này, vào khoảng năm 59, có người Do Thái
"nhận nơi này làm quê hương" mở lò bánh mì ngon hơn
hết. Về khuya, khi các tiệm tạp hóa đóng cửa, quanh khu chợ Hòa
Bình và đường nhỏ trước mặt khách sạn Thủy Tiên đã mở ra
các gánh bắp nướng, cháo gà, bún riêu, bún bò. . . cho khách đi
chơi về đêm. Con đường nhỏ này chạy ngan cổng trường Tiểu
học Ðà Lạt dẫn vòng theo triền núi qua Thư viện cũ, sân Quần
Vợt, Cư Xá Sinh Viên Ðại Học Nữ và các biệt thự lên đến đỉnh
núi với giao thông hào và hố chiến đấu còn sót lại từ thời
quân Nhật chiếm đóng. Với một trang trại nhỏ của Farraut do
mấy người Thượng ở trông coi. Ðầu dốc khu Hòa Bình, con dốc
ngắn đổ xuống cầu ông Ðạo với hai hàng cây Mai Ðà Lạt nở
hoa màu hồng tươi thắm rộ hai bên lề đường. Con đường phía
trên qua dãy ỏõ Kiosque ỏõ nhỏ, đến rạp Ngọc Lan, với xe
Phở Bắc nổi tiếng món phụ hành ngâm giấm và cải xà lách răng
cưa, vòng ấp Ánh Sáng xuống cầu Bá Hộ Chúc. Năm 1958, Ấp này
được lập cho dân nghèo với những căn nhà vách ván mái tôn. Ðầu
ấp là Bến xe đò cũ sau ngày ngôi chợ mới được xây cất xong.
Chợ mới này là công trình của Kiến trúc sư Ngô Viết Thụ,
khởi công vào năm 1958 với khúc Ðại Lộ ngắn nguyên là hẻm núi
giữa khu phố Hòa Bình và chân núi xoải dài từ Dinh Thị Trưởng
ra đến hồ Xuân Hương. Trên núi là Nhà Giam Chính của Ðà Lạt,
với một số biệt thự nhìn xuống hồ như biệt thự của Bảy
Viễn, Luật sư Hoàng Cơ Ðịnh. . . Kiến trúc ngôi chợ hai tầng
dựa lưng vào vách núi với bậc thang rộng rất ngoạn mục dẫn lên
Khu Hòa Bình với Phòng Trà ỏõ La Tulipe Rouge ỏõ vang bóng một
thời với các Ca sĩ Mỹ Thể và Khánh Ly thuở còn chưa nổi
tiếng, cùng một vài khách sạn và nhà Kiosque làm tiệm ăn, bán hàng
Len,vật Kỷ niệm. Ðường vòng hồ Xuân Hương được tô điểm
thêm, năm 1959 với vườn Bích Câu trồng đủ các loại hoa đẹp,
rực rỡ quanh năm thu hút khách du lịch từ phương xa tới với
bầy ngựa núi làm cảnh.
Từ
hồ Xuân Hương đi lên trường Nữ Trung Học Bùi Thị Xuân là đường
Võ Tánh với xóm nhà nhỏ và vườn cây đào, cây mận. Nơi này là
chỗ sinh trưởng của Nhạc sĩ Lê Uyên với những khúc tình ca khác
lạ với dòng nhạc đương thời làm rung động nhiều con tim của
tuổi trẻ đang bước vào cuộc chiến ngày càng khốc liệt ở
Một thành phần khác nữa là người Pháp thuộc địa và những
kẻ làm việc cho họ hầu như đếu mang quốc tịch Pháp. Anh dấ
gia nhập nhóm Tao Ðản. Ðải Phãt Thanh Saigon với giọng ngâm thơ
truyền cảm và nức nở cùng với giọng ngâm Nữ Hồ Ðiệp.
Về người Ðà Lạt, ngoài người sắc tộc Ko Ho nguyên thủy, dưới
triều đại Hoàng Triều Cương Thổ đời Vua Bảo Ðại, dân cư ai
cũng có dính dáng đến Hoàng Tộc nhà Nguyễn di dân vào từ Huế.
Một
thành phần khác nữa là người Pháp thuộc địa và những kẻ làm
việc cho họ hầu như đếu mang quốc tịch Pháp. Trước năm 60, thành
phố có khá nhiều trẻ lai Pháp ở các trường dòng Ðạo Thiên Chúa
như Adran, Domaine de Marie. Sau năm 60, dưới thời hòa bình của
Tổng Thống Diệm, việc trồng trọt rau cải được người Pháp
mang giống sang từ lâu như bắp cải,sà lách, cà rốt .v.v . .. được
phát triển mạnh với từng đoàn xe vận tải chở về bán tại
Saigon, Nha Trang, một số khá lớn người từ vùng Quảng Nam,
Quảng Ngãi nghèo khó đã đến định cư và tạo thành một khối
nhân lực đáng kể. Với sức chịu đựng lâu bền, cần cù, họ
đã chăm chỉ khai thác tối đa những thung lũng, hẻm núi để
tạo nên thành những thửa vườn rau tươi tốt quanh thành phố
từ Trại Mát, ấp Thái Phiên, cây số 6, Lò Gạch, Cam Ly Thượng
đến Suối Cát, Suối Tía.
Trong
cuộc chiến tranh khốc liệt ở miền Nam từ năm 1965 đến 1975,
lớp thanh niên sinh trưởng ở Ðà Lạt đã vào quân đội đi
chiến đấu và hi sinh khá nhiều ở các mặt trận. Phần lớn,
vốn thích mặc đẹp và oai hùng, họ đã gia nhập vào Không Quân
và Hải Quân của Việt Nam Cộng Hòa.
Nhắc
đến Ðà Lạt, cũng không thể thiếu những địa danh ở ngoại ô.
Dưới chân đèo Ðơng Dương là đập nước Ða Nhim. Bên dưới
dốc Preen, ở cây số 17 là đường vào La Ba, Ðức Trọng với
thảo nguyên rộng mênh mông trên cao và hồ nước trong xanh nổi
tiếng với một loại khoai lang mật ngọt như mật đường được
xẻ phơi khô và chuối trái nhỏ vỏ mỏng, quả thơm trái lớn.
Ngày
xưa, tôi từng có mộng về hưu về đây mở trang trại trồng
trọt với thú săn bắn về đêm. Vài cây số về phía Nam là Phi
trường Liên Khàng về sau được đổi gọi là Liên Khương với
thác nước rộng lớn đổ xuống khu làng Tùng Nghĩa của các sắc
dân miền Bắc di cư vào năm 1954 lập nghiệp sinh sống. Thác nước
hùng vĩ và ngoạn mục hơn nằm xa trên Quốc Lộ 20 về phía Nam độ
30 cây số là thác Gougah và Pongour nằm sâu vào bên trong phía Tây
Quốc Lộ.
Một
số không ít đã gia nhập vào trường Võ Bị Quốc Gia tại Ðà
Lạt và đã có hai Thủ Khoa. Chiến tranh chỉ nhớm chân ngoài rìa
thành phố và một vài biểu tượng từ các Phi Hành đoàn Trực thăng
của Không Quân ghé lại với chiến phục và súng đạn. Ngoại
trừ, một vài lần vào năm Mậu Thân 68, một lực lượng yếu kém
của Việt Cộng xâm nhập từ Ðan Kia, Suối Vàng về đến rạp
Chiếu bóng trên khu phố Hòa Bình đã bị quân đội ở địa phương
đánh đuổi ngay ngày hôm sau. Còn lại là những vụ pháo kích
nhỏ, lẻ tẻ vào một vài nơi đồn trú của Quân Ðội. Dù vậy,
chiến tranh cũng không để lại dấu vết nào đáng kể trên thành
phố thơ mộng, êm đềm này.
Có
nhiều nghi vấn về ngôi chùa Linh Sơn (3) đồ xộ, tráng lệ đã
được xây cất lên sau 1975 ở vùng Suối Tía, từ đầu dốc Preen
đi vào là nơi vốn là địa bàn hoạt động của Du kích Việt
Cộng ngày xưa và trong lúc dân chúng nghèo đói cực khổ của
một quốc gia được Liên Hiệp Quốc xếp hạng gần chót của các
nước nghèo trên thế giới.
ÐÀ
LẠT NGÀY NAY:
Sau
năm 1945, trong cao điểm của thời kỳ chống Pháp với phong trào
Việt Minh do Cộng Sản chủ mưu, một số thanh niên yêu nước đã
hăng hái theo vào chiến khu rồi sau đó, ở thế kẹt, phải ra
tận ngoài Bắc trong chiến dịch Tập Kết vào năm 1954. Một số
lớn họ đã trở về Ðà Lạt sau năm 1975. Những người này với
tinh thần ôn hòa đã cố giữ quê hương của họ tráng giai đoạn
tàn sát của chủ nghĩa Cộng Sản cho đến thời kỳ được gọi
là "Ðổi Mới".
Nhưng
từ sau năm 1975 cho đến 79, 80, một số rất lớn những người có
máu mặt, tiền của, trí thức đã chạy trốn khỏi Ðà Lạt. Ðặc
biệt là những người có liên hệ đến chính phủ Pháp vốn có
quan hệ ngoại giao tốt đẹp với Hànội đã lần lượt được
ỏõ Hồi Cư ỏõ về Pháp, để lại đằng sau những biệt thự
rộng lớn, nguy nga, tráng lệ không có người ở, chăm sóc và
cửa tiệm đóng cửa.
Năm
1984, khi được thả về từ Trại Tù Cải Tạo, tôi đã trở về
thăm gia đình và lòng tràn đầy chua xót khi thấy ỏõ quê hương
của mình đã mất ỏõ. Bây giờ chỉ còn người dân Ðà Lạt lam
lũ, tất bật. Những người ở lại là những người sống bám
theo những mảnh vườn rau cải. Ngoài ra,hơn 20 ngàn người từ
miền Bắc được chính quyền mới đưa vào Nam với chính sách di
dân khống chế Cao Nguyên Miền Trung đã phá rừng ở quanh khu lân
cận thành phố khiến cho các dòng nước bị cạn, và thời tiết
cũng không còn mát mẻ như xưa. Con đường Phan Ðình Phùng buôn bán
thuỏ xưa, nay đã trở nên đông đúc, chật hẹp và ồn ào náo
nhiệt như một khu phố của thành phố SàiGòn ngày trước. Với
mức dân số tăng vọt sau chiến tranh, thành phố đã phát triển vô
tổ chức, không kế hoạch đưa đến tình trạng bát nháo, từ khu
vực Phan Chu Trinh, Nhà Ðèn đến Chi Lăng ăn vào tận Hồ Than
Thở. Cơ sở của Trường Võ Bị nay tiêu điều, xơ xác như bị
bỏ hoang. Các dòng nước bị ngăn chặn và lám cho các hồ Than
Thở, Xuân Hương muốn cạn khô khiến vẻ đẹp thiên nhiên không
còn nữa. Các loại xe máy nổ cũng tăng vọt làm cho không khí yên
tĩnh của Ðà Lạt ngày xưa biến mất. Ðến thời kỳ đổi
mới,người Nhật, người Tầu Ðài Loan, Hồng Kông đã đổ tiền
vào khai thác như tu sửa khách sạn La Palace, làm sân Golf, xây khách
sạn nghỉ mát trên vùng đồi núi bên hồ nước Suối Vàng. Ðà
Lạt bỗng chốc biến dạng như một thiếu phụ đã luống tuổi
vội vàng tranh điểm, thay đổi xiêm y. Một giai cấp mới được
thành hình vừa ỏõ Rởm ỏõ lại vừa "lai căng". Tây không
ra Tây, Tầu không ra Tầu. Ðà Lạt diễm kiều của ngày xưa nay đã
mất. Thay vào đấy là cô gái Xã Hội Chủ Nghĩa đi giầy cao gót,
đồng phục công nhân và mái tóc cắt ngắn đã được nhuộm màu
vàng, đỏ với đôi mắt láo liên và đôi môi cong cớn. Ngọn núi
nghĩa trang của Ðằ Lạt có từ những năm 30 đến nay đang bị đào
xới và san bằng cho chương trình kế hoạch của người tư bản
Nhật. Ở đấy, có cả một nhóm mộ ngày xưa được gọi là Mộ
Tử Sĩ, ngày nay không còn ai công nhận để bị dẹp bỏ cho con
đường đổi mới.
Những
người cầm quyền như lưỡng lự đứng giữa ngã tư đường không
biết nên đi theo hướng nào. Một thành phố Du lịch và Nghỉ mát
có mâu thuẫn với Xã hội Chủ nghĩa không?
Bây
giờ dân số Ðà Lạt đã gấp ba lần trước năm 1975, chưa rõ
phải sống trên nền móng kinh tế nào?
Cuộc
khai thác du lịch như nửa mùa, quê kệch ở hồ Xuân Hương, Thác
Cam Ly, Thác Da Tan La, Preen, Suối Tía, Rừng Ái Ân, Biệt Ðiện vua
Bảo Ðại chỉ làm cho bộ mặt Ðà Lạt càng thêm diêm dúa như
"gái đĩ về già".
Ðà
Lạt ngày nay càng xói mòn vì mưa lở và khí hậu ngày cáng nóng
bức vì trơ trụi mất rừng cây thông bạt ngàn bao quanh.
TRẦN
NGỌC TOÀN