LÝ TƯỞNG TRƯỜNG VÕ BỊ QUỐC GIA VIỆT NAM
Khóa 16 Vật Tế Thần
Mai Trung Ngọc
|
Bàn tay bất lực che ngang mặt
Người ơi, người ơi, sao đoạn trường
Chim bỏ trời xanh đau cánh gẫy
Ngựa lìa chiến địa nhớ yên cương
Mượn men tủi hận làm phong vũ
Mơ thưở đầu xanh dựng tuổi vàng
(vẫn thơ Thanh Nam) |
Năm 1955, nền Đệ Nhất Cộng Hòa Việt Nam được khai
sanh với ông Ngô Đình Diệm làm Tổng Thống đầu
tiên. Sau khi
ổn định chính trị và kinh tế, Tổng Thống Diệm
nghĩ ngay tới việc cải tổ Trường Võ Bị Quốc Gia VN, muốn người
sĩ quan hiện dich phải có văn võ toàn tài, với lý tưởng
Quốc gia Dân tộc vững chắc, lúc loạn có khả năng
chỉ huy quân đội và thời bình phải như kỹ sư để xây
dựng đất nước. Thiếu Tướng Lê Văn Kim được đề cử làm
Chỉ Huy Trưởng với sự phụ tá của Chỉ Huy Phó kiêm Văn Hóa
Vụ Trưởng Trung Tá Trần Ngọc Huyến - năm 1960 lên làm
CHT kiêm VHVT - được giao nhiệm vụ cải tổ toàn diện
việc huấn luyện người sĩ quan hiện dịch. Trung tá trừ
bị Trần Ngọc Huyến là người tài năng nuôi
nhiều hoài băo, cũng là 1 người rất đươc Tổng Thống
Diệm tín nhiệm, ông nâng thời gian huấn luyện từ 1 năm qua
thời gian giao thời 2 năm và sau cùng 4 năm, bắt đầu
từ khóa 16 - Nhưng vì chính biến với áp lực Cộng quân gia tăng,
K16 ra trường sớm hơn dự liệu,
chỉ thụ huấn hơn 3 năm, K17 hơn
2 năm, K18 trở lại 2 năm. Đến khóa 22B mới thực sự được
thụ huấn chương trình 4 năm cho đến K27. Các khóa sau cùng của
TVBQGVN như K28, K29, K30 vì cảnh nước sôi lửa bỏng của đất nước
cũng lần lượt ra trường sớm hơn, có khóa còn ôm hận không
được quỳ tuyên thệ trên Vũ Đình Trường để ngẩng cao
đầu bước qua cổng trường, nơi mấy năm trước hối hả
chạy vào. Như chuyện giầu con út khó con út, khóa
Út 31 mới chinh phục Đỉnh Lâm Viên chưa lâu, đã phải chịu
cảnh nước mất, nhà tan ngàn đời ôm hận -. Chỉ Huy Trưởng
Trần Ngọc Huyến chủ trương áp dụng triệt để chương trình
huần luyện quân sự và văn hóa của Military Academy Westpoint (Mỹ),
muốn người sĩ quan có hào quang không bị thành kiến coi là một
thứ võ biền như các ông quan võ thời phong kiến hoặc các sĩ-quan-trung-sĩ-Pháp
cũng có, nhưng chính là để thưc hiện được ý muốn của vị
Nguyên Thủ Quốc Gia, đó là : Thời bình phải có khả năng
xây dựng đất nước, như Napoleon Đệ Nhất của Pháp đề ra khi
lập trường Ecole Polytechnique.
Lúc đó với sự ủng hộ triệt để của
Tổng Thống Ngô Đình Diệm, ngôi trường mới tọa lạc trên đồi
1515 được xây cất, với kiến trúc tối tân kiểu Tây phương,
ngay như các viên gạch đỏ nung già trang trí bên ngoài cũng đã
được chở từ Mỹ qua. Với Văn Hóa Vụ có các lớp
học theo tiêu chuẩn Mỹ và Phòng Thí Nghiệm Vật Lý được
trang bị dụng cụ tân tiến nhất Đông Nam Á (kể cả ở Nhật,
trong thời điểm đó). Xin đưa ra một thí dụ nhỏ để
thấy việc quan tâm đặc biệt của vị Nguyên Thủ Quốc Gia :
Khi kiến trúc sư Ngô Viết Thụ, Khôi Nguyên 1 đại
học Kiến Trúc ở Roma (Ý) về nước phục vụ, chính
Tổng Thống Diệm đã đem theo lên Đà Lạt để khảo sát sơ đồ
xây cất trường VBQGVN. Theo thế đất đồi 1515, kiến trúc sư
Ngô Viết Thụ đã khuyên cáo nên uốn cong 2 building bên cánh
phải, chỉ riêng để tạo nên vẻ duyên dáng cho khu doanh
trai SVSQ, còn tiện nghi vẫn thế mà chi phí tăng lên thêm gần 2
triệu (giá vàng 3400 đồng / 1lượng), cũng đã được Tổng
Thống chấp thuận ngay. Tuy SVSQ K14 đã làm hàng quân Danh Dự để
Tổng Thống Đặt Viên Đá Đầu Tiên cho trường mới, nhưng
khi K16 vào trường cuối năm 1959 vẫn ở trường cũ, đó là những xây
cất khi trước của Quân Y Viện Pháp Catroux, cộng thêm các
nhà mua được của trang trại Farraut. Phải đến năm 1961 khóa
16 mới dọn qua trường mới và cũng đã đổ
mồ hôi trong nhiều Chủ Nhật bị xung công không đi phố, để
lấy cỏ ở các đồi lân cận đem về trồng lại trên
Vũ Đình Trường. Không có ngân khoản cho việc trồng cỏ, thì mình
vẫn phải tự làm đẹp trong khả năng mình. "Nobless
Oblige", Trung Tá CHT thường nói vậy.
Người viết không là 1 chuyên gia quân sử VNCH, nên
không biết chuyện hết các khóa, mà chỉ nói nhiều về
giai đoạn chuyển mình của Trường Võ Bị, ở thời điểm các
khóa 14, 15; 16, 17, 18, 19, với những kỷ niệm sống và biết như
của 1 Tân Khóa Sinh, 1 SVSQ hoặc 1 trong 15 sĩ quan cán bộ của trường,
bị Trung Tá CHT Trần Ngọc Huyền bắt buộc ở
lại, không cho lựa Quân, Binh chủng như các bạn đồng khóa.
Thế nhưng như truyền thống "Qua Cổng Trường", theo
lệnh Niên Trưởng chạy qua cổng, bỏ lại sau lưng mọi
lối sống, với thói quen dễ dãi của đời sống dân
chính, rồi tình nguyện chịu tôi luyện những năm dài về Lý
Tưởng Quốc Gia, lòng hy sinh và khắc kỷ thì sau lễ Mãn Khóa,
khi ngẩng đầu bước ra khỏi Cổng Trường, tung đi bốn phương,
hẳn các Cựu SVSQ/TVBQGVN mọi khóa chẳng khác nhau nhiều về
đại thể. Tưởng cũng nên cùng nhớ lại tôn chỉ của SVSQ là
"Tự Thắng Để Chỉ Huy", và lời tuyên
thệ của Tân Khóa Sinh khi được gắn Alpha Đỏ là "Không
ăn gian, không nói dối và không ăn cắp", còn
lới tuyên thệ khi nhận lon Thiếu Úy là "Tôn Trọng Danh
Dự và Trung Thành Với Tổ Quốc để Bảo Vệ Quê Hương"
(khác biệt không như lời thề của sĩ quan Quân Đội Nhân Dân
Cộng Sản VN là "Trung Thành với Đảng")
Khi đó chương trình thụ huấn 4 năm, dự định dành
khoảng 40% số giờ cho Quân Sự Vụ bao gồm việc huấn luyện quân
sự và thể dục thể thao, trực thuộc QSV cũng có các sĩ
quan Càn Bộ Liên Đoàn SVSQ, mà sĩ quan Liên Đoàn Trưởng bao
giờ cũng là một sĩ quan nghiêm khắc, khuôn thước, với
vẻ mặt khắc kỷ kiểu Trung Tướng Ngô Quang Trưởng, như các
Thiếu Tá Huỳnh Hữu Lạc, Đại Úy Đoàn Công Hậu
hoặc Thiếu Tá Cao Yết sau cùng chẳng hạn. Còn 60%
số giờ dành cho Văn Hóa Vụ, với chương trình ôm đồm Toán, Lý
Hóa, Công Chánh, Cơ Khí, Điện, Họa Đồ Kỹ Nghệ, Luật Hành
Chành và Công Pháp Quốc Tế, Triết Học, Quân Sử, Sinh Ngữ Anh
Pháp. Lại còn lớp Dẫn Đạo Chỉ Huy dành cho năm cuối, K
16 do đích thân CHT Trung Tá Huyến hướng dẫn tranh luận
có được những chất
xám "cream of cream" do Quân Đội điều động được,
bất kể từ Hải, Lục, Không quân như các Hải Quân Trung Úy Lê
Phụng, Nguyễn Tiến Ích xuất thân tại Brest (Pháp) (phải
hiểu trong quy chế giáo dục Pháp, Brest được coi là 1 Grande
Ecole, so sánh tương đương với Ivy League
của Mỹ. Muốn nhập học 1 sinh viên giỏi toán phải học qua 2 năm
dự bị Toán - Vật Lý Math Sup. và Math Spé., qua 1
kỳ thi tuyển rồi học 3 năm, cao hơn BS Mỹ 1 năm), Sau này
cũng còn 1 cưu sinh viên Brest là Trung Tá Nguyễn Vân, trước
làm Giáo Sư, khi mang cấp Đại Tá đã làm Văn Hóa
Vu Trưởng sau cùng của trường, cũng có như Đại Úy Không
Quân NĐ An, Đại Úy Không Quân DT Hiểu đều có bằng Cao Học
(Master) đại học Pháp, Thiếu Úy Không Quân Võ Đệ chuyên
lo Phòng Thí Nghiêm Hóa Học cũng tốt nghiệp ở đại học Pháp.
Đại Úy Nguyễn Ngộ đang được biệt phái cho bộ Giáo Dục để
giảng dạy tại đai học Khoa hoc Sài Gòn cũng bị đòi về. Nhiều
Giáo Sư dân sự như cha Thính, Dòng Chúa Cứu Thế, vài frères
dòng Tabert v.v.. cũng được mời về tăng cường cho các giáo sư
quân đội. Sau này với luật đông viên 1964, Bộ Quốc Phòng tha
hồ điều đông các trí thức khoa bảng từ các khóa 14
Thủ Đức trở về sau. Các Giáo Sư Toán, Vật Lý tên tuổi sáng
chói ở Sài Gòn lúc đó như NX Nghiên, PV Phú, ĐQ
Hưng, BD
Hiển, PK Viêm v.v... đều đã từng là Giáo Sư Văn Hóa Vụ.
Một số GS động viên sau, không còn được giải ngũ theo quy định,
đã từ từ thay cấp từ Chuẩn Úy lên Thiếu Tá chỉ
chuyên lo việc giảng huấn đến tận khóa cuối cùng như GS
PK Viêm chẳng hạn. Sau dần, số Giáo Sư Văn Hóa Vụ
rất hùng hậu, vì theo tiêu chuẩn West Point mỗi lớp học văn
hóa chỉ có hơn chục sinh viên, nên để giảng huấn cho 800 SVSQ
4 khóa, đã có gần 200 Giáo Sư, trong đó có nhiều
Giáo Sư được gửi qua Mỹ học Hậu Đại Học, rồi trở về
giảng huấn cho thêm phẩm lượng. Thành thực nói, giới trí
thức khoa bảng tập trung ở TVGQGVN còn hơn nhiều trường đại
học dân sự.
Khi đề nghị trình về bộ Tổng Tham Mưu phê
chuẩn, đã bị bác bỏ với lý do vững chắc: Ở tất
cả các đại học, điểm loại là có môn bị 06, còn luôn
luôn được lấy điểm các môn khác bù vào, nếu dưới 10 điểm
vẫn được đúp 1 năm. Nhưng do biết Trung Tá Huyến
là người tín cẩn của Tổng Thống, nên Bộ TTM nhượng bộ
bằng lòng chấp thuận giải pháp cho ra trường sớm
với cấp bậc Chuẩn Úy, vởi lý do cũng vững vàng không kém:
Đây không phải lý do kỷ luật, mà vì điểm văn hóa yếu.
Vậy nếu ở Thủ Đức, 1 SVSQ trừ bị vào trường văn
hóa có bằng Trung Học Đệ Nhất Cấp, thụ
huấn 6 tháng (lúc đó) và tốt nghiệp với cấp bậc Chuẩn Úy,
thì 1 SVSQ hiện dịch vào trường Võ Bị Đà Lạt có Tú Tài
lại đã thụ huân 12 tháng, thì không thể có cấp bậc thấp hơn.
Nhưng Trung Tá CHT Huyến nhất định không chịu, thân lên trình
diện Tổng Thồng trình bày, và cương quyết nếu đè
nghị của mình không được chấp nhận sẽ từ chức, không
tiếp tục nhiệm vụ được chính Tổng Thống giao phó. Có
lẽ chính Tổng Thống cũng khó nghĩ, vì một đàng với những lý
lẽ vững chắc của bộ TTM, lại còn lẽ tư, vì trong số 52 này,
có SVSQ Trần Trung L. cháu của đương kim Tổng Trưởng Quốc
Phòng Trần Trung Dung, một đồng chí trung thành, hết lòng của
ông Diệm khi còn trong bóng tối sống lưu vong. Cũng có SVSQ Thái
Quang C. em ruột Trung Tướng Thái Quang Hoàng, khi ông Diệm là
Thủ Tường dưới áp lực bị lật đổ bởi các sĩ quan thân Pháp
như tướng Nguyễn Văn Hinh, Tổng Tham Mưu Trưởng, và Trung Tá
Tuyên, Tư Lệnh Ngự Lâm Quân đem quân từ Đà Lạt về Sài Gòn.
Lúc đó Thiếu Tá Thái Quang Hoàng đang chỉ huy các lực
lượng quân đội ở Nha Trang, đã tích cực ủng hộ và
vận động nhiều sĩ quan khác để Thủ Tướng Diệm có
chỗ tựa lưng, nên rất khó nghĩ . Nhưng sau cùng
Tổng Thống Diệm phải chiều theo các lý lẽ biện giải của
Trung Tá Huyến: Phải quyết định như vậy để
làm gương cho các khóa sau, phải hết sức lưu tâm học Văn
hóa hầu có kiến thức vững chắc thực sự cho thời bình,
như tiêu chuẩn do chính Tổng Thống đề ra. Vì việc này, Trung
Tá Huyến đã tạo cho cá nhân nhiều hiềm khích và bị
giải ngũ khi là Đại Tá trong giai đoạn Chỉnh Lý của tướng
Nguyễn Khánh.
Ở Hải Ngoại, trong những năm 90, người viết có
đến thăm cựu CHT Trần Ngọc Huyến nhiều lần, mỗi khi qua
Texas, ông ở Houston và không giao dịch với ai, kể cả K16. Chỉ
cho 1 mình cựu SVSQ K16 TVH biết địa chỉ, lần đầu tôi cùng vài
bạn K16 khác, được bạn H. đưa lại. Những lần sau đến 1 mình,
nhớ tôi thưa với ông: Đã từ lâu ta có câu: "nghĩa nhà
binh như tình nhà thổ", vả lại những việc tận tâm
tận lực vì Trường Võ Bị của Đại Tá thì cũng như các Chỉ
Huy Trưởng quân đội khác, muốn đơn vị do mình chỉ huy được
lẫy lừng hơn vậy thôi, nhưng
Con xin gọi Đại Tá là Thày
vì đã có tấm lòng của bậc Thày khi xưa. Thày có nhiệm
vụ đào tạo sĩ quan, SVSQ học hết khóa thì ra trường, nhưng
Thày lại như nhìn đám học trò nhỏ, lo lắng muốn hết
sức trang bị tinh thần trước khi phải đẩy chúng vào Đấu
Trường. Thày đã đích thân hướng dẫn luận bàn trong
lớp Dẫn Đạo Chỉ Huy, do Thày chế ra, hy vọng để đám học
trò phải biết "phóng tầm tư tưởng vào tận tương lai".
Các thí dụ Thày đưa ra, với kiểm chứng thực sự ngoài
đơn vị không hoàn toàn đúng. Nhưng điều quan trọng ở tấm lòng.
Chẳng có vị Chỉ Huy Trưởng nào làm như Thày cả. Tôi thấy
mắt ông ấm áp hơn. Sau thân tình, trong 1 lần được chia xẻ đĩa
xôi như bữa ăn trưa do Bà Thày để lại cho ông, cùng
nhìn chim sẻ rỉa bánh mì ông đắt trên cây trước nhà,
tôi lân la hỏi về việc 52 người bạn K16, nên biết thêm tình
tiết. Ông nói nếu phải làm lại, ông vẫn làm như
vậy chỉ tiếc đã không thông báo trước. Theo ông, khi
phải lám 1 việc quan trọng thì phải săn sàng hy sinh, 52 người
trẻ tuổi như là 1 hy sinh cho chương trình 4 năm Võ
Bị được thành công như ý muốn của Tổng Thống Diệm, ông
chẳng có lý do gì để thù hằn những người tuổi trẻ đó
cả. Như thế K16 chúng tôi đã là VẬT HY SINH. Rồi ông
cho biết ông gập đòn thù oán cá nhân, nhưng
sẵn sàng chấp nhận. Khi tướng Nguyễn Khánh chỉnh lý năm 1965,
khi đó ông "được" bộ TTM cử làm "Thanh Tra Người
Khinh Binh Tiền Phương", có nhiệm vụ đeo ba-lô, súng
ngắn đi theo người khinh binh tiền phương thứ
nhất, để biết khả năng tác chiến của khinh binh này.
Trong các quân đội trên khắp thế giới, không có 1 nhiệm vụ nào
như thế cho 1 Đại Tá cả. Ông được đưa về một Đại Đội
Bộ Binh do 1 bạn trong số 52 K16 này, Trung Úy ĐĐY, chỉ
huy. Nhưng chính Trung Úy ĐĐY đã bảo vệ, cứu ông. Sau đó
được giải ngũ và làm giám đốc cho hãng săng Esso cho đến khi
mất nước. Cận ngày 30-4-75, khi 2 cưu SVSQ K16 TĐK và BQ đang là Lữ
Đoàn Trưởng, Lữ Đoàn Phó một Lữ Đoàn Nhẩy Dù, ở Sài
Gòn, ông đã liên lạc để cùng bàn soạn kế hoạch gì,
chắc phải hỏi 2 đương sự TĐK và BQ mới rõ được.
tình lân cận trong khóa
đặc biệt, lại như cấp thời mơ hồ đến những hy sinh
bắt buộc phải chịu đựng và phải tình nguyện nhận lãnh.
Có lẽ vì uyên nguyên tâm lý sâu xa đó, sau này ra trường
đã có nhiều đơn vị trưởng đã đi vào Quân Sử, tử
tiết cùng đơn vị như các Trung Đoàn Trưởng Đặng Phương
Thành, Nguyễn Hữu Thông, Đoàn Cư, hoặc Lư Đoàn Tưởng TQLC Nguyễn
Xuân Phúc (Robert Lửa của K18), cùng các Tiểu Đoàn Trưởng TQLC
Nguyễn Đăng Tống, Đỗ Hữu Tùng. Chắc cũng nên nhắc đến
những đơn vị trưởng nhiều lần ngã khụy rồi lại đứng lên,
trong mình vẫn còn mang nhiều mảnh sắt, như ở Nhẩy Dù
với các Lữ Đoàn Trưởng, Lữ Đoàn Phó LMN, TĐK, BQ, và
"người về từ đôi Gió" PKB, hoặc ở TQLC với
các Tiểu Đoàn Trưởng NKĐ, TVH, TNT và NVC người chỉ huy Tiểu
đoàn "cắm cờ trên cổ thành Quảng Trị" năm xưa,
hoặc BĐQ với các Liên Đoàn Trưởng, Tiểu Đoàn Trưởng NVH,
Hồ Văn Hòa, ĐTQ. Cũng trong tinh thần chia sẻ gian nguy, đã có như
phi công NVƯ, Phi Đội Trưởng Trực thăng, có nhiêm vụ tải thương,
tiếp tế cho An Lộc đã không ngần ngại tắt motor, cho rơi
thẳng, xuống gần đất mới mở lại để hy vọng tránh phòng
không của Cộng quân, hoặc như Hải quân NNP, Hạm trưởng
chiền hạm 402 trong nhiệm vụ chở quân dân di tản từ Miền
Trung về Nam, đã chủ trương chỉ một chế độ khẩu phần, nước
uống duy nhất cho tất cả sĩ quan, thủy thủy cùng hơn
4000 quân dân di tản.