Về
Một Vị Thầy Vừa Khuất Bóng:
Thầy Trần Ngọc Huyến,
Cựu Chỉ Huy Trưởng TVBQGVN
Phạm Đ́nh Thừa
Trong đời sống một con người, ngoài các đấng phụ mẫu, chúng ta c̣n hân hạnh có được nhiều vị thầỵ Thầy văn, thầy vơ và một số các vị thầy linh tinh trong nghề nghiệp. Nếu theo "ư kiến" của vị "Thầy muôn thuở" (Vạn thế sư biểu) Khổng Tử, "tam nhân đồng hành tất hữu ngă sư", th́ con số các vị thầy trong đời sống b́nh thường, phải nói là đếm không xuể. Các vị xuất hiện, có khi như đom đóm lập ḷe, khi như trăng rằm vằng vặc trong đời tạ Có những vị thầy "hệ số nhỏ", những vị thầy "hệ số lớn" (trong chương tŕnh giáo dục bậc Trung học Đệ nhị cấp, thập niên 60); tuy nhiên, không nhiều th́ ít, kỷ niệm vẫn c̣n bàng bạc. Dân ta từ bao đời vẫn xem trọng chữ "sĩ" nên sự yêu kính các vị thầy đă trở thành nếp. "Muốn sang th́ bắc cầu kiều, muốn cho hay chữ phải yêu mến thầy", "Không thầy đố mày làm nên", hoặc văn vẻ và chữ nghĩa hơn, "Nhất tự vi sư, bán tự vi sư", ông bà ta đă khuyên răn con cái như vậỵ Có điều, sự xuất hiện các vị thầy trong đời sống, hiểu theo quan niệm nhân duyên của Phật giáo, th́ có thể là duyên may mà cũng có thể là nghiệp chướng! Và cho đến bây giờ, tôi vẫn c̣n trong trạng thái mù mờ khi phân định cái ṿng duyên nghiệp đối với vị thầy khả kính Trần Ngọc Huyến!
Cuối năm 1962, 17 tuổi, tôi tự nguyện đi vào quân đội. Cùng một bọn hơn 400 tên thư sinh khác, lần đầu tiên tôi được diện kiến thầy Trần Ngọc Huyến, Chỉ huy trưởng trường Vơ Bị Quốc Gia VN, sau gần 10 tuần đổ mồ hôi, sôi nước mắt học bài học "bái sư" nơi miền Cao nguyên có hoa đào nở rộ vào dịp Xuân về. Đêm lễ nhập môn, quanh hàng đuốc lung linh trong gió lạnh, giữa Vũ Đ́nh Trường bao la, thầy hiện ra như một vị thần đầy quyền uy (qua cái nh́n của một tên con trai mới lớn như tôi). Trong bộ lễ phục mùa Đông và qua giọng nói truyền cảm, tôi thấy thầy thật gần nhưng cũng thật xa"Thầy tôi" (xin được gọi như vậy) là hiện thân của cái đẹp quyến rũ đối với người khác phái, nhất là các vị nữ lưu ưa thích lính tráng. Tướng người dong dỏng gọn gàng, khuôn mặt phảng phất đường nét Tây phương với chiếc mũi cao, vẻ hào hoa pha nét cao ngạo hiện rơ trong lời nói, trong dáng đi và một số chúng tôi đă nhuộm thấm phần nào phong thái này! H́nh như "hào hoa" và "cao ngạo" đă không có chỗ đứng trong quân đội ta và là hai chất xúc tác mạnh bạo tạo điều kiện cho đố kỵ và trù ếm! Phải chăng v́ vậy, thầy tôi đă rời khỏi quân đội giữa khi những "nụ hồng", trong khu "vườn hồng" do thầy bỏ công sức vun trồng ở Đà Lạt năm nào, trở thành các loài thạch thảo cố vươn lên trên những vùng đất chết, khô cằn và cứng ngắc, khắp 4 Quân khủ!
Thầy Trần Ngọc Huyến, đến với
Trường Vơ Bị Quốc Gia
VN ở chức vụ Chỉ huy phó kiêm Văn hóa
vụ trưởng, vào
lúc tướng Lê Văn Kim đang là Chỉ huy trưởng.
Sau cuộc
binh biến năm 1960, tướng Kim ra đi,
thầy thay thế chức
vụ Chỉ huy trưởng với cấp bậc
Trung tá. Đây là phần
thưởng lớn lao trên bước hoạn
lộ của thầy, v́ theo
quan niệm đào tạo một lớp cán bộ quân
sự ưu tú cho
quân đội đủ khả năng
đương đầu với t́nh thế thời
b́nh cũng như thời chiến của Tổng
thống Ngô Đ́nh
Diệm, Chỉ huy trưởng phải là một Tướng
lănh. Cuộc binh
biến năm 1963 đă mở rộng thêm bước
vân tŕnh của
thầy.
Để tưởng thưởng cho
việc giữ an Quân trấn và
Thị xă Đà Lạt trong những giờ phút chông
chênh của đất
nước, thầy được gắn thêm
một bông mai bạc với Bảo
Quốc Huân Chương và Anh Dũng Bội Tinh
với nhành Dương
Liễu.
Trường Vơ Bị Quốc Gia cũng
được quân đội ân
thưởng dây biểu chương màu Anh Dũng
Bội Tinh, đền bù
cho những đêm thức trắng chờ địch
của Khóa chúng tôi
bên bờ Suối Vàng, vùng Thác Prenn, và dọc
đường ṃn
Ṿng Lâm Viên, trong thời gian binh biến. Thầy
rời
trường với cấp bậc Đại Tá và lăn
ḿnh vào những môi
trường đầy cạm bẫy và nguy hiểm
hơn: Chính Trị. Có
lúc thầy đă thăng tiến đến mức
cuối con đường công
danh: Thứ Trưởng Thông Tin. Đây là môi trường,
tôi
nghĩ, rất thích hợp với kiến thức và
khả năng thầy.
Bởi v́, thầy vào quân đội sau khi đă
lấy xong mảnh
bằng Cử nhân Văn chương. Với cái nh́n
hẹp ḥi và quan
niệm thiển cận của cá nhân tôi, người
chọn văn chương
làm hướng đi cho đời ḿnh, ít hay
nhiều, cũng là những
con người mang một tâm hồn lăng mạn.
Họ có được một
quan niệm bao la, vị tha và khoáng đạt về
t́nh yêu, ngay
chính đối với t́nh yêu tổ quốc. Người
thiếu chất
lăng măn trong hồn, t́nh yêu có chăng cũng
chỉ là kết
quả của cân đo và tính toán, ngay chính đối
với quê
hương và đất nước. (Không biết có
đúng không đây?!).
Tính lăng mạn cộng với chất cao ngạo
trong người đă
tạo cho thầy tôi một cái nh́n khinh thế,
ngạo vật. 13
năm sau ngày mất nước vào tay Cộng
sản và trong kiếp
lưu vong, ở tuổi đời 64, thái độ
sống này vẫn c̣n
đậm nét trong tâm thư thầy viết cho Khóa
16, nhân ngày
kỷ niệm 25 năm rời trường Mẹ
của Khóa này, ở tiểu
đoạn giải thích về nguồn gốc danh
từ "Cùi" (một danh
xưng trong nội bộ Sinh Viên Sĩ Quan Trường
Vơ Bị Quốc
Gia VN và nó đă chiếm ngôi vị tŕu mến trong
Truyền
Thống của Trường):
"Danh từ xấu xí 'Cùí được tôi dùng
(gọi SVSQ) để
phản ứng sự chống đối của các
cấp cao trong quân đội
thời ấy, và sự nghi ngờ về hiệu
quả chương tŕnh
huấn luyện mới.
Thâm ư của tôi là một mặt chuẩn bị
tinh thần học tṛ
ḿnh thế nào để 'Sinh tồn vẻ vang'
với mọi nghịch cảnh
sau ngày ra trường, kể cả bí quyết
xử thế với các
thượng cấp 'răng đen mă tấu, ác và
ngu; mặt khác,
luyện sự chịu đựng, gan ĺ đừng
để nghịch cảnh hoặc
loại thượng cấp này 'bẻ gẫư; đồng
thời sẵn sàng
chấp nhận sự ngược đăi của
kiếp 'làm hủi -làm cùí,
sống biệt lập với người đồng
bệnh, trong khi bị
quần chúng khinh tởm, lánh xa, mà vẫn 'vui
vẻ', 'cao sang'
làm 'cái đẹp'.
Tôi tin chắc là phương pháp huấn luyện mới sẽ thành công và toán sinh viên đầu tay của tôi sẽ gây tiếng vang sau ngày ra trường. V́ vậy, tôi dùng danh xưng xấu xí 'Cùi để gọi sinh viên của tôi như là lời thách đố cao ngạo với những ai trong chính phủ và quân đội, không tin ở phương pháp của tôi và tài năng của sinh viên do phương pháp ấy tạo nên." Thành kiến nặng nề và thái độ hành sử cứng ngắc đối với thành phần ăn hại đái nát, nhưng lại đầy đủ uy quyền định đoạt vận mệnh quốc gia và quân đội mà thầy gọi là 'răng đen mă tấu, ác và ngu, đă đem đến cho thầy nhiều tai ương. Đă có thời gian thầy bị đày, bị đ́ theo chân các đơn vị hành quân tác chiến cấp tiểu đoàn vùng Cao nguyên Pleiku, Kontum. Cũng chính trong thời gian thăng trầm đầy gian truân này, thày đă sống thật gần với đám học tṛ do thầy đào tạo và đă nh́n tận mắt để cảm thông hơn cái gánh nặng của chiếc ba lô trên đôi vai gầy thiếu dinh dưỡng của người lính trong chiến trận mà cái chết thật gần như hơi thở. Có lẽ cái cay nghiệt của định mệnh đă đến cuối đường nên thầy được phép giải ngũ, trở về cuộc sống an nhàn nơi đô thị, với chức vụ Giám đốc (nhân viên) Esso. Tuy nhiên, tâm t́nh thầy chắc hẳn không bao giờ được tự tại, an nhàn khi nghĩ về đám học tṛ, những đứa con tinh thần do thầy đào tạo, đang c̣n miệt mài nơi những trận chiến bốc lửa, đẫm máu khắp 4 Quân khu, trong âm thanh tiếng đạn pháo hằng đêm vọng về đô thị ngày một gần hơn. Một kẻ sĩ như thầy làm sao có thể b́nh chân như vại khi chứng kiến công tŕnh chiến đấu để tự tồn của quân, dân miền Nam đang đi dần vào ngơ cụt?! Giờ thứ 25 của cuộc chiến, thầy cầm lại ống phát tuyến của chiếc máy truyền tin quân đội để cất lên tiếng gọi đàn, cổ vơ đàn con tinh thần trong việc bảo vệ từng phần đất quê hương, trong khi bọn người ăn trên ngồi trước, 'răng đen mă tấu, ác và ngu, đă cao bay xa chạy từ bao giờ. Tiếng gọi máy cho học tṛ trong cơn hấp hối của đất nước như tiếng kêu bi thiết của chim mẹ khi linh cảm được mối bất an cho chiếc tổ và đàn chim con.
Bên cạnh thái độ cao ngạo với đời, thầy tôi là con người tự trọng và tự giác. Không đắn đo, áy náy để thừa nhận lầm lỗi trước thiên hạ. Sự xích mích giữa Trung tá Vĩnh Lộc trưởng phái đoàn chấm thi măn Khóa 15 và Trung tá Trần Ngọc Huyến Chỉ huy trưởng đă được giải quyết trong t́nh tự Huynh Đệ Chi Binh khi thầy đứng lên nhận trách nhiệm và lỗi lầm về phần ḿnh, trong phiên họp kết thúc có đầy đủ sĩ quan các cấp. Hai đức tính này đă được viết thành giáo điều tâm niệm của người SVSQ/TVBQG.
Kỷ niệm giữa thầy và Khóa chúng tôi đầy âm ấp qua những giờ Lănh Đạo Chỉ Huy do thầy diễn dạy. Mùa Văn Hóa, thường th́ mỗi tuần một lần, thầy đến với chúng tôị Không khí oi nồng của đất nước trong giai đoạn tiền binh biến 1963, thầy đến giảng huấn thường xuyên hơn, nhưng ít nói hơn thường lệ và để cho chúng tôi tự đặt câu hỏi cũng như đưa ra câu bàn thảo trước những biến động chính trị, biểu t́nh sôi sục. Một câu hỏi từ một người trong chúng tôi đă đặt ra với thầy: "Trung tá nghĩ ǵ về t́nh h́nh đất nước và chế độ hiện tạỉ" (Câu hỏi được nêu lên v́ đa số chúng tôi đều biết cảm t́nh của thầy đối cá nhân Tổng thống Diệm và cũng muốn hiểu chiều hướng của thầy đối với cuộc "cách mạng" tháng 11 năm 1963. Sự tôn kính và thương mến của thầy đối với vị nguyên thủ quốc gia được gián tiếp phản ảnh nhiều lần trong các giờ Lănh Đạo Chỉ Huỵ Khi đề cập đến Tổng thống Diệm, thầy thường dùng danh xưng "ông Cụ" để gọị) Thầy đắn đo vài phút rồi đưa ra câu trả lời ngắn: "Các anh nghĩ sao th́ tôi nghĩ vậy." Suốt thời gian binh biến, thầy rất bận rộn, vừa lo việc an ninh pḥng thủ trường, vừa sắp xếp bố trí các cánh quân ngăn chận xâm nhập trên mọi ngả đường dẫn về Đà Lạt và cũng vừa để ư đến thái độ chính trị của vị Thị trưởng. Thầy như con thoi giữa Trường và Thị xă Đà Lạt. Khóa chúng tôi, một số được phân phối đi các nút chận, số khác lo pḥng thủ trường. Đêm chong mắt gác, ngày phờ người trên băi tập tác chiến. Và "tai nạn" cũng đă xảy ra cho Khóa chúng tôi! Ngày đó, theo đúng chương tŕnh huấn luyện, Khóa chúng tôi phải lưu lại băi tập nguyên ngày, nhưng vào khoảng gần trưa, chúng tôi được lệnh trở về trường gấp để thay quân phục và vào giảng đường để nghe hiểu thị của vị Chỉ huy trưởng. Buổi trưa Đà Lạt mùa Thu, gió hiu hiu cộng với cái mệt mỏi trong những ngày qua - đêm canh gác, ngày đổ mồ hôi thao trường-, và thời gian chờ đợi thầy cũng khá lâu (hơn 2 tiếng) đă du chúng tôi vào giấc ngủ..gục trên bàn học! Thầy đột nhiên hiện ra. Lớp học lặng yên, chỉ có âm thanh ro ro của vài tiếng ngáy mạnh bạo và dĩ nhiên là không có tiếng hô dũng mănh "Vào Hàng...Phắc" của người trưởng lớp! Khi nghe được lời báo động hốt hoảng của vài người bạn tỉnh ngủ, cả lớp như bị điện giật, vội ra khỏi cơn mơ về... làng! Thầy vẫn c̣n đứng sau cánh cửa lớp đă khép; anh trưởng lớp vội vàng ra mời thầy vào! Thầy bước lên bục, tay cầm chiếc cặp da, nách kẹp chiếc gậy chỉ huy và lần đầu tiên tôi thấy được nét giận dữ hiện trên khuôn mặt thầy! Thủ tục chào kính đă xong, chúng tôi vẫn c̣n trong tư thế đứng nghiêm nhưng thầy không phất tay cho phép chúng tôi ngồi xuống ghế như thường lệ. Tiếng thầy oang oang trong cái yên lặng dị kỳ của lớp học: "...Tôi cứ tưởng các anh là những bông hoa hồng trong khu vườn hoa ngát hương, nhưng thật sự các anh chỉ là...Tôi phạt cả Khóa chạy quanh Vũ Đ́nh Trường từ ngay bây giờ cho đến giờ cơm chiều." Phán xong, thầy tôi nện mạnh gót giày, bước ra khỏi giảng đường. Lúc bấy giờ, tôi cảm thấy lệnh phạt thật oan ức và bất công. Chúng tôi, một bọn trai thời binh lửa, về học vấn đă vượt qua Trung học và đa số đă mài đũng quần ở các giảng đường Đại học, ít nhất là 1 năm, lời trách mắng nặng nề của thầy trong cơn giận dữ đă tạo nên nhiều suy tư và phiền muộn. Tuy nhiên, sau này, nghĩ lại, tôi thông cảm cái phản ứng tâm lư của thầy lúc ấy. Trong khi lửa "cách mạng" hừng hực bùng cháy cao ngọn trong tâm tư, thầy vội vă bỏ hết công việc cần thiết ngoài Thị xă để hăm hở về lại trường hầu chia xẻ với chúng tôi. Nhưng khi bước vào lớp học, chứng kiến cảnh tượng đám gà chết, gục đầu yên lặng "suy tư" trên ghế học bên cạnh sách vở ngổn ngang, bảo sao thầy không giận! Quả t́nh, thật mất hứng!
Giờ Lănh Đạo Chỉ Huy của thầy đă gieo vào đầu óc trinh nguyên của đám trai mới lớn chúng tôi cái t́nh cảm thiết tha, đậm đà với đất nước và nhân dân. Bởi v́, theo thầy và qua lời nhắn nhủ với chúng tôi của "ông Cụ": đất nước ta đang c̣n lạc hậu, dân ta c̣n quá lầm than, nghèo đói, các anh là những người phải đến với họ bằng t́nh thương và sự che chở. Thầy đă đem tâm huyết mong đào tạo chúng tôi thành một lớp vơ sĩ đạo mới với phong thái hào hoa (an officer and gentleman). (Về điểm này hy vọng rằng chúng tôi đă không phụ công thầy). Từ mầm mống t́nh yêu cao thượng đó, lư tưởng đă nở hoa - lư tưởng quốc gia, dân tộc. Cái lư tưởng mà sau bao thăng trầm dời đổi, bao nguy nan, khổ nhục, vẫn c̣n miên man trong tâm trí đa số học tṛ của thầy, dầu hiện tại tóc họ đă ngả màu hoa cau, hoa bưởi. Thầy c̣n dạy chúng tôi cung cách đối xử với người khác phái bằng thái độ tương kính. Cầm đũa, nâng ly; cầm dao xẻ thịt. nhất nhất phải phù hợp với tính chất hào hoa trong lời nói và cử chỉ...
Từ lúc xa thầy cho đến khi xảy đàn, tan nghé, chúng tôi ít có dịp gặp lại thầy. Cá nhân tôi được hân hạnh tái ngộ thầy trong hai dịp. Một lần tại trại Không quân Anderson đảo Guam, tháng 5 năm 1975, tôi đứng xa xa nh́n thầy đang hàn huyên với một số người tị nạn khác. Ḷng tôi muốn chạy ngay đến bên thầy để nói lên lời chào kính, nhưng đôi chân tôi lại cứ ́ ra một chỗ! Tại v́, tôi cảm thấy xấu hổ khi nhớ đến lời thề lúc ra trường...
Lần thứ hai, vào khoảng cuối thập niên 80, người em thầy, anh Trần Ngọc Nhuận (đă qua đời vài năm trước) điện thoại báo tin cho tôi hay thầy viếng Calị Tôi đă thông báo cho anh em cùng Khóa đón tiếp thầỵ Dầu tuổi đời đă cao, thầy vẫn giữ được phong thái năm nào -giọng nói vẫn truyền cảm và cả con người thầy vẫn tỏa ra nét cao ngạo cố hữụ Trong lúc hàn huyên tâm sự, tôi hỏi dọ ư thầy về đường hướng tương lai cho đất nước, thầy trầm ngâm nhuốm vẻ u buồn: "Tôi già rồi anh, dạo này tôi học cách nấu phở. Nh́n nồi phở sau khi hạ lửa, cặn cáu, bọt bèo nổi lên, đưa tay vớt không xuể... tôi đâm cười thầm với chính ḿnh." Khi được tŕnh bày về tổ chức của Khóa chúng tôi, thầy đă không ngần ngại, tự nguyện xin tham gia đóng góp để giúp đỡ những "Cùi" c̣n kẹt lạị Lúc chia tay, thầy tôi rưng rưng lê.. tôi đè nén cảm xúc, bước vội đi... Và đó là lần cuối cùng tôi được vinh hạnh trùng lai người thầy cũ!
Trên phương diện con người và sự phục vụ, thầy tôi là một trong những tài năng lớn của đất nước. Về phương diện tổ chức và thiết kế, suốt đời binh nghiệp và ngay cả sau này, tôi ít gặp được mẫu người như thầỵ Những kế hoạch huấn luyện sinh viên sĩ quan sở dĩ thành công là do công tŕnh tim óc trong giai đoạn thiết kế. Thầy cũng thường đến các băi tập quân sự và các lớp học văn hóa để kiểm tra và trắc nghiệm sự khả thi và mức độ thâu lượm của sinh viên. Tuy đă rời xa Trường Vơ Bị, bóng h́nh thầy vẫn c̣n phảng phất mỗi lần trường tổ chức Lễ Truy Điệu v́ thầy là tác giả bài văn tế Chiến Sĩ Trận Vong (từ Khóa 12) với những đoạn văn tế đầy kích động ngậm ngùi:
"Lúc bấy giờ...
Nơi cánh đồng chim Bắc Việt
Bên con rạch nhỏ Cà Mau
Trong cánh rừng sâu Trung Việt
Phút chốc...
Liệt vi.... đă trở nên người thiên
cổ
Ôi! sự nghiệp đang tâm đeo đuổi
Nay phải đành gián đoạn nửa chừng
................
Mô đất lạ chôn vùi thân bách chiến
Đám sương mù tàn tạ mảnh chinh y...
...................
Chí tuy c̣n mong hăm hở
Nhưng sức không kham nổi đoạn đường."
Công tŕnh xây dựng thầy để lại nơi trường xưa đă trở thành nếp, thành truyền thống lưu lại đến ngày naỵ Đặc san Đa Hiệu, tờ báo của trường do thầy khởi xướng và đặt tên, vẫn c̣n sống măi trong sinh hoạt của các "Cùi" tại hải ngoạị Tâm huyết của thầy c̣n theo chân đám học tṛ sau khi ra trường bằng tập cẩm nang bỏ túi, Cẩm Nang SVSQ/TVBQGVN, trong đó một số kiến thức quân sự căn bản được đúc kết.
Đối với Quân Lực VN Cộng Ḥa, chương
tŕnh em gái Dạ
Lan, đứa con tinh thần mà thầy cống
hiến cho quân đội,
một thời đă là niềm an ủi to lớn
cho những người
lính trận trên 4 Quân khu, trong đêm khuya, nơi băi
chiến:
"Các anh chiến sĩ can trường trên mọi
nẻo đường đất
nước..."
"Nhân vô thập toàn", ông bà ta thường
bảo vậy, thầy
tôi cũng chỉ là con người của trần
thế và chắc hẳn
không đạt được mức toàn vẹn
của một thánh nhân. Tuy
nhiên, phần đời trải dài trong cuộc
sống, thầy đă
thể hiện đầy đủ ư nghĩa
của nó. Kết thúc bài viết
kính dâng thầy, tôi xin được ghi lại
một đoạn di bút
trong tâm thư thầy gửi đến Khóa 16:
"... Nhưng tôi biết rơ là việc nhân tạo
đều phải lệ
thuộc vào hiện tượng 'tương đốí.
Đời Trần đă có
Trần B́nh Trọng, th́ cũng đă có Trần Ích
Tắc; đời Lê
có Lê Lai th́ cũng đă có Lê Chiêu Thống. V́
vậy, khi
viết bài này, tôi chỉ muốn Tri Ân và Hănh
Diện, nhớ
tới khoảng thời gian ngắn khi đoàn trai này,
trăm người
như một, đă thực sự tỏ ra kiêu hùng,
gây nên tiếng
vang và gương sáng cho các khóa 17, 18, 19 và các khóa
về
sau noi theo.
Sự kiêu hùng, tài đức của các thế
hệ Vơ Bị này đă
làm cho giặc cộng thù ghét quân trường đào
tạo nên họ,
đến nỗi năm 1985, trong cuộc phỏng
vấn con tôi về
chương tŕnh đoàn tụ gia đ́nh, nhân viên
cộng sản c̣n
căm hờn hỏi 'Anh c̣n nhớ cha anh đă
chỉ huy cái 'Ḷ sát
sanh Đà Lạt' không?!!
Nh́n lại 25 năm về trước, tính lại
sổ sách, ta nhận
thấy ǵ? Nước chúng ta đă mất. Bạn
hữu chúng ta th́
người đă chết, kẻ đang đau
khổ trong cái thế giới
tối tăm mà thú vật đang trả thù con ngườị
Mộng ước
của chúng ta 25 về trước, đâu có
phải là nhận kiếp tị
nạn trên vùng đất xa lạ nầy, làm cái công
việc này,
ẩn náu dưới mái nhà nầy, và mỉa mai hơn
nữa, là mang
cái quốc tịch này?
Vậy c̣n mộng ước bây giờ?
Thôi! Hăy yên lặng, dừng mọi sự ước
đoán tại đây."
Riêng tôi, cái lư tưởng thầy gửi gấm vào đầu óc non dại tuổi hoa niên, tôi vẫn c̣n trân quư đến hôm naỵ Những khuya trằn trọc trở ḿnh, con tim như đau nhói, thoang thoảng lời giảng dạy của thầy, lời thề nơi trường cũ: Trung thành với tổ quốc và dân tộc. Tai nạn (?) hơn, cái tính cao ngạo nơi thầy tôi đă học thuộc và thấm nhuần thật kỹ nên cứ xách ba lô đổi vùng dài dài trên suốt hành tŕnh lính trận! Cho đến bây giờ, sau bao năm nh́n lại, tôi vẫn cứ lấy làm tự hào về một đoạn đời dĩ văng dù "công danh đi xuống, phú quí thụt lùi", nhưng vẫn "Sinh tồn vẻ vang" như kỳ vọng của thầy! Phải chăng tôi thuộc mẫu người thắp đuốc đi t́m hạnh phúc trong khổ đau của chính ḿnh?! Là phúc hay họa, là duyên hay nghiệp về cuộc hạnh ngộ giữa học tṛ và thầy đâỷ! Câu tự vấn bao năm không có lời giải đáp và cũng sẽ không bao giờ có.
Sáng nay, buổi sáng mùa Thu, khung trời đất khách
có mây
xám giăng đầy, có cơn gió lạnh miền
Tây Bắc Mỹ và
quanh tôi, lá đă đổi màu vàng ảm đạm,
t́nh cờ nhận
được tin đau buồn: Thầy đă ra
đi! Không, Thầy chỉ
Khuất Bóng, đúng như ư nghĩa câu nói của
tướng Mac
Arthur -Thầy chỉ "fade away". Bởi v́,
vết tích Thầy vẫn
c̣n hằn sâu trong kư ức và trong sinh hoạt
của đám học
tṛ ngày xưa.
Xin thành kính dâng nén tâm hương tạ ơn
thầy.
Phan Thiết Phạm Đ́nh Thừa
Ngày 17 tháng 11 năm 2004.